Cái gì có bán là bán rẻ

Bán rẻ nên bán được nhiều; Nhờ bán được nhiều nên càng bán rẻ

Chuyên bán hàng dùng kèm

Hai mặt hàng đi kèm: Rẻ và Trung Thực

ĐÃ NÓI LÀ LÀM, ĐÃ BÁN LÀ RẺ

Rẻ và Trung thực luôn luôn đi kèm

Phục vụ tận tình, chu đáo

đúng chủng loại; đúng kích thước; đúng định lượng; đủ số lượng.

Hàng rẻ, hàng tốt

Không chỉ rẻ mà còn là hàng tốt và phục vụ tận tình, chu đáo.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013


Có điều rất lạ lùng là nhiều người không biết ở đâu bán sách và văn phòng phẩm rẻ nhất Sài Gòn. Rẻ và Trung Thực. Bán đúng, bán đủ với giá thấp nhất.
Nếu đến Nhà sách Quỳnh Mai (cũ), nay là Trung tâm sách Sài Gòn, bạn sẽ ngạc nhiên và ân hận là lâu nay mình đã mua hàng hóa cùng loại như thế này ở chỗ khác bị chém chặt một cách vô lý. Hãy đến 474-476 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP.HCM để kiểm tra, nếu không đúng với cam kết ghi trên bảng hiệu thì có thể bắt đền ông Lương Vĩnh Kim.

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

THAY ĐỔI HAY LÀ CHẾT


Tôi đang thay đổi công việc kinh doanh cho phù hợp với tình hình mới. Hơn 10 năm qua, tôi thực hiện đường lối "chuyên nghiệp bán sách và chỉ có bán sách". Từ bán sách, tôi tập trung làm sách bằng cách dịch thuật, biên soạn, liên kết xuất bản, in và phát hành. Tôi có thế mạnh của nghề sách mà ít ai có: Một học thật với 14 năm ở 3 trường đại học và có 12 năm học phổ thông ở hai miền Nam, Bắc dưới hai chế độ khác nhau: Chế độ Việt Nam Cộng Hòa và Chế độ Việt Nam Dân Chủ Công Hòa (Tôi được vượt trường sơn, lội suối băng rừng ra Bắc học tập – Chúng tôi được mệnh danh là hạt giống đỏ miền Nam gieo trên đất Bắc). Tôi bẩm sinh mang dòng máu "Quảng Nam hay cãi"  - ngủ phụng tề phi-địa linh nhân kiệt. Tôi cố gắng học tập và rèn luyện sao cho có thể "thượng mã đề thương, hạ mã đề thư; lên ngựa múa gươm, xuống ngựa múa bút" - "ra chợ múa tiền, về nhà dụng chữ". Tôi chọn nghề sách là phù hợp với bẩm sinh của tôi. Sách là một phần của đời tôi, đã cho tôi những chén cơm, manh áo, nhà cửa … và cả cay đắng. Bộ sách tiếng Anh của tác giả Mai Lan Hương do tôi tổ chức biên soạn, đã được tái bản hơn 10 năm với số lượng lớn. Tôi chọn cho mình con đường “chuyên nghiệp làm sách và chuyên nghiệp bán sách”. Trên bảng hiệu của Nhà sách Quỳnh Mai luôn luôn có câu “chuyên nghiệp bán sách và  chỉ có bán sách” để giúp cho người mua những món không phải là sách khỏi tốn công lặn lội đến nhà sách Quỳnh Mai.Nhưng thưa các bạn, nghề sách đang rất khó khăn và sắp hết thời. Ở huyện không còn nhà sách. Ở các thị xã cũng hầu như không còn nhà sách. Ở các thành phố lớn thì nhà sách cũng đang ít dần. Nếu bảng hiệu còn ghi Nhà sách thì trong nhà sách  ấy cũng bán như là cái tiệm "chạp pô"- đủ món, có khi không thấy sách đâu. Công nghệ thông tin, đặc biệt là sự phát triển của Internet dẫn đến xóa sổ dần sách báo giấy; nhà sách chết theo. Bill Gates đã tuyên bố là ông dành 10 năm cuối đời phấn đấu để xóa sổ sách báo giấy để không còn cảnh phá rừng lấy gỗ làm giấy. Sách báo giấy sẽ đi vào dĩ vãng. Tôi phải thay đổi cho kịp tình hình mới trong công cuộc mưu sinh. Tôi suy nghĩ rất nhiều. Cả chuyện riêng và chuyện chung. Thời gian làm mọi việc thay đổi. Nhiều ngành nghề tưởng đâu có thể dựa vào đó để mưu sinh nhiều đời sẽ có thể mất đi. Nghề may nón vải đã chết vì cái đầu bắt buộc phải đội nón bảo hiểm. Nghề buôn bán, sửa chữa đồng hồ đã teo tóp vì có điện thoại di động có đủ chức năng thay thế. Nghề dệt vải truyền thống được người dân Quảng Nam mang vào Sài Gòn đã làm phát triển cả khu vực lân cận ngả tư Bảy Hiền và Gò Vấp, giờ đây đã đi vào dĩ vãng. Trong 10 năm gần đây, tốc độ thay đổi chóng mặt. Những người bán hàng ở các sạp chợ nhường dần thị phần cho các siêu thị. Các các siêu thị nhường bớt thị phần cho người bán hàng qua mạng. Các căn nhà mặt tiền giờ đây đã bớt tiền vì hiệu quả kinh doanh đang thấp dần. Cách mưu sinh không còn như xưa. Nhiều ngành nghề truyền thống đã chết, một số ngành  nghề mới ra đời, có khi lạ hoắc lạ hươ. Một hôm tôi ngồi ăn phở, bỗng có người đi xe đạp, mặc áo quần xanh như châu chấu, đeo mặt nạ nửa Tây, nửa Tôn Ngộ Không đến bên mời  tôi mua vé số. Tôi nhìn họ đầy khâm phục. Họ làm mới cả nghề bán vé số dạo!Ở vùng thôn quê giờ đây không còn yên tĩnh ẩn giấu  sau lũy tre làng. Nhà cửa đã san sát nhau như phố xá; không “cách nhau cái giậu mồng tơi xanh dờn” mà cách nhau bằng bức tường tốn kém với nhiều vật nhọn, kẻm gai tua tủa.Cuộc sống khó khăn hơn xưa. Người đông, chen chúc. Rừng không còn gỗ. Ruộng ít và ngày càng ít dần vì lấy đất làm nhà, làm sân gôn, làm khu công nghiệp. Dòng sông quê tôi cạn dần, mùa khô kiệt nước, trơ đáy, nứt nẻ, không sinh vật nào sống nổi. Đất nước bây giờ là hơn 90 triệu dân chứ không phải là ‘ba chục triệu dân mím môi trừng mắt’ như ngày chia cắt 1954. Vẫn đất nước ấy, diện tích ấy, giờ đây gánh trên mình dân số gấp ba và đang trên đà tăng tốc đẻ.Và trước một thế giới thay đổi nhanh hơn thời cha anh đánh Mỹ. Người Mỹ không còn bắn hú họa, rải thảm bằng B52 như thời đụng độ ở Việt Nam. Mỹ đã bắn chết tên khủng bố ngồi trên xe jeep chạy trên sa  mạc châu Phi bằng máy bay không người lái. Trung Quốc đã có hàng không mẫu hạm. Họ đã nuôi được gà đẻ trứng rẻ đến mức chở xa cả mấy ngàn cây số đến Việt Nam mà vẫn bán được rẻ hơn trứng gà nuôi đẻ tại Việt Nam: Mỗi trứng 1.000 VNĐ.Những gì đang diễn ra quanh ta, vòng trong vòng ngoài, gần, xa đều cho thấy một nhu cầu sinh tồn là: mỗi người phải thay đổi; cộng đồng phải thay đổi và quốc gia cũng phải thay đổi. Nếu không: Chết hoặc tệ hơn: nô lệ. (còn tiếp)

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

TỪ LÀM TỚI GIÀU


Có nhiều con đường để trở thành người có nhiều tiền. Nhưng có nhiều tiền cũng chưa hẳn đã thành người giàu. Trúng số độc đắc hoặc “phân lô bán nền” cũng có thể được nhiều tiền. Nhưng người có nhiều tiền chưa hẳn đã là người giàu. Để được gọi là người giàu với đầy đủ ý nghĩa của nó thì còn phải đi con đường khá xa, có khi hết đời vẫn không thể thành người giàu. Cuộc sống của người giàu là cả quá trình hình thành gia nhập đẳng cấp của thế giới giàu. Họ có môi trường sống, bạn bè, văn hóa, nếp sinh hoạt và suy nghĩ riêng. Đời sống vật chất có thể cải thiện nhanh nhưng đời sống văn hóa, tinh thần thì đòi hỏi thời gian dài lột xác, có khi phải mất vài thế hệ. Hơn nữa, giàu và làm giàu cũng rất khác nhau. Có người nhờ thừa kế tài sản - như giới quý tộc châu Âu chẳng hạn – mà trở thành người giàu. Tuy nhiên, người giàu mà không làm thì không có những trải nghiệm của người làm giàu. Nếu gặp biến cố, phá sản, người giàu mà không làm sẽ vĩnh viễn rơi xuống đáy, vô phương gượng dậy; còn người làm giàu sẽ dựng lại cơ nghiệp dễ như lấy đồ trong túi. 
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Nhật bị bom đạn tan hoang nhưng trong quãng thời gian ngắn, họ đã dựng lại một nước Nhật giàu có, hùng cường.  Bởi lẽ, trước chiến tranh, họ đã biết làm giàu. Họ đã chế tạo được máy bay, tàu chiến để chọi nhau với Mỹ, với Nga. Họ có những con người đã làm qua. 
Năm 1949, Đài Loan tiếp nhận một lượng lớn những người đã biết làm giàu từ Hoa Lục. Chính những người chạy trốn Mao, với hai bàn tay trắng, đã góp phần quyết định vào việc xây dựng Đài Loan thành một trong bốn con rồng châu Á. Nhiều người đã từng làm giàu rồi vì một lý do nào đó mất sạch của cải nhưng sau một thời gian, họ khôi phục lại của cải khá nhanh. 
 Việt Nam thống nhất, hoà bình đã ba mươi sáu năm nhưng vẫn nghèo với một xã hội được tổ chức và quản lý rất kém. Không phải vì chiến tranh sinh ra tụt hậu mà vì ta chưa bao giờ làm qua, chưa bao giờ giàu qua. Tụt hậu là từ đời ông cha ta cho đến đời ta. Quê ta chỉ biết trồng lúa, ăn của viện trợ thì sau chiến tranh cũng chỉ đi xa hơn trồng lúa một tí. Vì vậy, cái cần nhất để lại cho thế hệ sau là cách làm giàu chứ không phải là của cải. 
Nước Nhật gặp thảm hoạ động đất, sóng thần, gây nên cảnh đổ nát tan hoang. Cả thế giới dõi theo với sự cảm thông, chia sẻ; đồng thời ngưỡng mộ dân tộc Nhật. “Gia bần tri hiếu tử”. Trong bối cảnh hoạn nạn này, người Nhật càng bộc lộ những phẩm chất mà chúng ta phải phấn đấu bền bỉ, mất nhiều thế hệ mới hy vọng có thể vươn tới. Tiền bay lã chã không ai nhặt. Em bé chín tuổi mất cha mất mẹ, đói lã, sắp hàng lãnh phần ăn, nhưng khi chưa đến lượt mà có người đột nhiên cho phần ăn thì em mang lên nộp để phân phát chung rồi quay về vị trí cũ xếp hàng chờ. Với những con người ấy, dân tộc Nhật vượt qua thảm họa này dễ hơn chúng ta giải quyết nạn kẹt xe, vứt rác bừa bãi! Dân tộc Nhật không chỉ giàu về của cải mà họ còn rất giàu về văn hoá. Nhờ văn hoá, họ làm giàu và đồng thời nhờ làm giàu mà họ hình thành văn hoá của người làm giàu đã mấy trăm năm nay. 
Phải làm giàu thì mới tạo ra thói quen làm giàu. Phải làm thì mới tìm ra cách làm và sản sinh ra văn hoá làm. Điều quan trọng là phải để lại cho thế hệ sau cách làm giàu và văn hoá làm giàu. Không làm mà giàu thì chỉ cần một cơn gió nhẹ là quét sạch của cải, vĩnh viễn không gượng dậy được. Ông Đặng Tiểu Bình là người có câu nói nổi tiếng “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột” nhưng khi đến Thẩm Quyến lại quảng bá “làm giàu là vinh quang” chứ không nói “giàu là vinh quang”. (Trích từ tác phẩm 'Năm Lúa Đi Mỹ')

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Phần 2 Tuổi thơ Năm Lúa


PHẦN II


Tuổi thơ Năm lúa



không ai chọn cửa để sinh ra




Hắn bảy tuổi thì Mỹ qua. Một ngày hè bỗng dưng làng quê thanh bình của hắn lãnh gần hai trăm quả bom. Hắn theo dân làng ra tránh bom ở các hầm ngách dọc bờ sông. Chẳng biết ai bày, nhưng dân làng đã đào sẵn những cái hầm khoét vào bờ sông, miệng hầm hướng ra mặt nước sông. Bom Mỹ rơi gần miệng hầm, lăn xuống sông nổ tung toé, cá chết phơi trắng bụng nhưng dân không chết. Hầm ngột ngạt lắm nhưng không ai dám ra khỏi miệng hầm.

Bom ngớt thì Mỹ vào làng. Đi theo Mỹ có lính, có thông ngôn. Mỹ nói xí lô xí là không ai hiểu. Ông thông ngôn dịch lại: “Mỹ kêu gọi dân làng ra khỏi hầm trú ẩn”. Dân ra. Du kích thì trốn biệt. Thanh niên trốn theo du kích. Mỹ dồn dân lại. Thấy Mỹ cao to, hùng hổ tay lăm lăm súng, quanh người quấn đầy đạn, ai cũng sợ. Hắn và đám trẻ khóc rồi giương mắt đứng nhìn Mỹ. Người già run rẩy, nhiều phụ nữ phải bôi mặt lem luốt làm xấu vì sợ bị hiếp. Mỹ châm lửa đốt nhà, đốt hết rồi lùa dân về khu Dồn Thượng Đức. Hắn lon ton theo mẹ tản cư dưới họng súng Mỹ. Làng quê hắn được Mỹ chấm tọa độ “oanh tạc tự do”. Từ đó, quê hương và tuổi thơ của hắn trôi qua ngày ngày có Mỹ.
Tản cư đến khu Dồn (1-khu dồn dân để dễ kiểm soát) thì hắn được Mỹ và lính Cộng Hòa đón tiếp. Khu Dồn là một khu đất ruộng khoảng năm héc-ta, được phân lô để cấp cho dân tản cư dựng nhà tạm. Mỹ phát cho mỗi gia đình hai mươi tấm tôn, mười ký gạo. Sống ở khu tạm cư khổ như con chó bị nhốt. Khổ nhất là không có chỗ đái ỉa. Dân cứ chen chúc nhau ỉa ra gò, ỉa ra ruộng, ỉa ra sông, làm thối um cả vùng. Nhưng gia đình hắn không thể trở về làng cũ vì về đó là hứng bom đạn và canh nông bầy. Bom đạn Mỹ bắn vào làng quê hắn như bầy chim, bầy chuồn chuồn.
Hắn chưa được đi học vì khu Dồn không có trường. Chiến tranh, thiên hạ chỉ quan tâm đến chuyện sống chết, đói no. Học là xa xỉ phẩm. Hằng ngày, hắn theo lũ trẻ lân la khắp khu Dồn để hóng chuyện, để xem Mỹ và lính làm gì. Ở đâu có người chết, có bom nổ đạn rơi là hắn tới. Coi rồi về. Chết là thường lắm. Chết thế nào mới thành chuyện. Máy bay tông bà già chết là chuyện thế giới này chưa bao giờ hình dung ra. Nhưng quê hắn thì đó là sự thật. Bà già đi chợ về ngay Dốc Nhà Thương thì một chiếc máy bay Đầm Già hạ cánh ở sân bay nhưng vướng phải bò đang gặm cỏ, vội cất cánh thì đâm phải cọc sắt, rồi lết vào Dốc Nhà Thương đâm chết bà già đang đội thúng đi chợ. Bà già chết không toàn thây. Nghe đâu được Mỹ bồi thường nhiều tiền lắm. Dân quê hắn xầm xì, có người nói nếu được chết như bà già đó thì phúc cho con cháu lắm!
Ổn định cuộc sống ở khu Dồn một thời gian thì hắn đi học. Hắn không nhớ lắm, nhưng hắn nhớ chắc là hơn tám, chín tuổi gì đó, hắn mới được đến trường. Hắn đến trường là sau tết Nguyên Đán chứ không phải vào dịp cuối thu như ông Thanh Tịnh đã viết: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc”. Nhưng đúng là hắn không bao giờ quên được “buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn. Hôm nay tôi đi học”. Ông Thanh Tịnh viết đúng rồi, hắn chép lại. Mẹ hắn dắt hắn đến thầy Khánh dạy trẻ trường làng, mang theo lễ thầy gồm hai chai rượu rum, một khay nếp, một khay đậu đã được tuyển lựa thật kỹ. Tất cả đều được cho vào khay, phủ khăn lụa, trịnh trọng như đi hỏi vợ. Mẹ hắn nói: “Muốn sang thì bắt cầu kiều; muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Cái gì có giá nhất của nhà hắn đã được đem tặng thầy.
Thầy nhận lễ, nhận hắn làm học trò. Ngày đầu, thầy viết vào vở hắn ba chữ a, b, c rồi dạy hắn đọc là a, bê, cê. Hôm sau thêm ba chữ d, đ, e rồi bắt hắn đánh vần là dê, đê, e. Hắn học nhanh nhưng nghịch như quỷ. Nói tục, chửi thề bị thầy bắt quì. Thầy lấy thước đánh vào tay, vào mồm nhưng hắn vẫn không chừa. Chữ nào thầy cho là hắn học thuộc nhanh, thầy viết không kịp cho hắn học nhưng nghịch ngợm thì hắn không sửa được chút nào. Tất tật, hắn học một năm. Đến năm sau, hắn lên học lớp Ba Trường Tiểu học Cộng đồng Lộc Bình.
Học một buổi, còn một buổi hắn cùng bọn trẻ con tụ tập lang thang phá phách, đánh nhau. Bọn hắn hay tụ tập ở sân hội đồng xã để đánh nhau. Hắn đánh theo võ mà hắn đã học lóm được của ông Nhì(2-võ sĩ; dạy dạo cho con nít). Hắn vừa múa võ, dậm chân thình thịch, vừa đọc: “Lão mai hoàng ngọc trảng/tấn bộ đản song quyền/đê đầu xà lân lộ/cô tả đả cô tiên/tồi sơn quành quái ải/lưỡng bộ cản dâng biên/phụng hoàng lai yểm huyệt/ chiến trổ võ công thành”. Lũ trẻ cùng tuổi nghe hắn đọc không hiểu gì cả nhưng nể hắn lắm. Hắn thường chấp hai đứa bằng tuổi đánh nhau với hắn nhưng hắn vẫn thắng. Một chú lính Biệt Chính (3-Một sắc lính địa phương của Việt Nam Cộng Hòa) xem hắn đánh với hai đứa rồi nói: “Ê, mi dám chấp thêm một đứa nữa không?”. Hắn nói: “Dám”. Chú lính nói: “Nếu mi thắng, tau sẽ cho mi gói thuốc Cáp-tân”. Cái gì chứ thuốc Cáp-tân (4-CAPSTAN: tên loại thuốc hút. ) thì thơm lắm. Hắn không hút nhưng đổi được kẹo dẽo. Thế là hắn đánh nhau. Thắng. Được thuốc. “Thêm đứa nữa, dám không?”. “Dám, nhưng cấm dật”. Đông quá mà ôm dật thì hắn thua. Nếu không dật, hắn vừa đánh vừa di chuyển, từng thằng xông vô là hắn quất, phải thối ra. Hắn gọi đó là chiến thuật đánh trường giang, vừa đánh vừa chạy, chấp bao nhiêu cũng được. Sau này lớn lên, hắn thấm thía chiến thuật đánh trường giang nên không làm việc ở đâu lâu. Ở lâu hắn sợ dính đòn. Anh lính Biệt Chính hỏi hắn: “Mi có chị gái không?”.  “Có” - hắn nói láo để cầu may xin thêm cái gì. Anh lính bày hắn mấy câu để về đọc cho chị gái nghe: “Em ơi, đừng lấy Pháo Binh/Nửa đêm đạn bắn rung rinh cẳng giường/Em ơi đừng lấy Cộng Hòa/Lấy anh Biệt Chính tà tà lãnh lương”. Hắn lặp lại được ngay. Anh lính cho hắn thêm gói thuốc nữa rồi bày hắn CAPSTAN là viết tắt của câu “Con Anh Phá Sản Tại Anh Ngu”.
Lớn thêm một chút, hắn lon ton theo mẹ ra khỏi khu Dồn, len lỏi trở về làng cũ cách khu Dồn khoảng năm cây số. Sáng đi, tối về. Sáng đi có lính lục soát, chiều về có lính lục soát không chừa ai. Làng quê bây giờ đã hoang hoá, cây cỏ mọc lút đầu người, lấp kín lối đi. Heo nuôi thành heo rừng, gà nuôi thành gà rừng, thấy người là bay chứ không chạy. Trâu di chuyển thành bầy như trâu rừng, ra uống nước ở mé sông bị máy bay Mỹ bắn chết, thối cả bãi An Điềm.
Hắn theo mẹ mò ốc, hái rau, hái ổi, bắt cá, lấy măng, lấy củi; mặt trời lặn lại về khu Dồn. Ngày nào không đi học là hắn theo mẹ. Nhiều hôm bỏ học để đi. Học có ý nghĩa gì đâu. Hắn đi để ngóng trông gặp du kích. Mẹ hắn, mấy dì hắn cũng vậy. Ngóng tin Cách mạng. Cách mạng mình yếu quá, Mỹ dí chạy dài, không biết chết sống ra sao. Hôm Mỹ vào làng, cậu hắn mang súng ra kê ở gốc cây ngâu ngắm bắn mấy phát chẳng ăn thua. Mỹ cứ tới, cậu hắn mang súng chạy nấp vào hầm. Mỹ phát hiện, ném một quả lựu đạn vào hầm rồi bỏ đi. Nghe đâu cậu hắn bị thương nặng, được Cách mạng đưa qua bên kia sông chạy chữa, không biết sống chết ra sao. Chú hắn, dì hắn cũng rút vào núi cùng với du kích, không biết bây giờ ra sao. Du kích quê hắn giỏi và kiên cường lắm nhưng không biết sao bây giờ vắng tanh. Dân quê hắn xì xầm: “Hay là chết hết rồi! Mỹ chưa qua thì chú mô cũng nói hăng, đến lúc Mỹ vãi đạn thì chạy không thấy tăm hơi. Hèn gì!  lính Cộng Hoà nói “du kích là dích cu” chứ có hay chi mô!”
Một hôm, mẹ con hắn đang lui cui hái rau thì sau lưng có người khẽ “Chào chị Sáu!”. Giật mình quay lại. Cậu Thiện!(5-một cán bộ cốt cán, hoạt động từ thời chống Pháp). Mẹ hắn khóc. Gặp cậu Thiện mà không thấy cậu Suyền, bà lo. Cậu Thiện cho biết anh em du kích vẫn bình an. “Chúng ta đang bố trí lại thế trận chiến tranh nhân dân. Có miền Bắc xã hội chủ nghĩa chi viện, có Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ, ta nhất định thắng, địch nhất định thua. Mỹ đưa quân vào là vào trên thế thua. Có điều trước mắt miền Bắc chưa chi viện kịp, anh em đang đói, rất thiếu thốn, nhờ chị giúp cho”. Hai người nói chuyện suốt buổi. Hắn hóng chuyện.
Mẹ hắn im lặng nhìn xa xăm. Mình đói, chạy gạo cho con từng bữa. Đi ra khỏi nhà là có mật vụ dòm ngó, ra khỏi khu Dồn là có lính lục soát. Tiếp tế bằng cách nào? Trước khi Mỹ vào, bà có chôn một số chum lúa nhưng gặp lũ lụt tràn vào, lúa bị thúi không ăn được. Chắc anh em du kích đói là do cơn lũ vừa rồi. Nghe nói anh em ăn rau củ cầm hơi, bà xót xa lắm.
Sáng hôm sau, bà vẫn đi làm như thường ngày. Bà dậy sớm lo cho con, ăn no rồi gói một mo cơm to hơn thường lệ. Rang muối, đậu phụng, mè làm thức ăn mang theo. Hái rau, hái ổi và đợi. Trưa đến thì sau lưng có tiếng khẽ “Chào chị Sáu”. Cậu Thiện, cậu Suyền, dượng Bé ở đâu như dưới đất đội lá đứng lên, xung quanh người cắm đầy lá ngụy trang. Bà mừng, khóc. Xanh xao quá, nhưng còn sống là quí lắm rồi. Dượng Bé là em rể bà. Dượng hiền như cục đất, dì Mua chê nhưng bà nói vào: “Hắn hiền như rứa sẽ không đánh vợ, chứ hỗn như mi mà lấy trúng đứa khác là bị đánh tối ngày”. Rồi dì dượng lấy nhau. Mỹ vào, cả hai rút trốn biệt.
Tâm tình, hỏi han tình hình một lúc thì bà chặt mấy tàu lá chuối trải ra rồi đặt gói cơm lên trên. Bà mời: “Hai em với anh Thiện ăn đi, chị ăn rồi. Bữa nay chị gói hai gói, chị ăn một gói rồi”. “Chị và cháu ngồi xuống ăn với tụi em cho vui”- cả ba đều đồng thanh. Bà ngồi xuống, mở mo cơm đã được lèn chặt như bánh tét. Bà cầm dao cắt thành từng lát mỏng rồi đưa cho mỗi người một lát cầm chấm muối đậu. Bà ăn ổi, nhường cho hắn và du kích ăn cơm. Mo cơm ít quá! Ăn xong thì dượng Bé, cậu Suyền đi hái ổi, lấy măng, hái rau, lấy củi phủ đầy quang gánh cho bà. Cậu Thiện ngồi bàn với bà chuyện tiếp tế cho du kích. Phải tìm ra cách chứ không thì nguy. Phải dựa vào dân, phải bám dân nhưng dân thì bị địch xúc hết rồi, kèm kẹp hết rồi!
Chiều hôm đó bà về sớm, ghé qua chợ bán hết mớ ổi, mớ rau được hơn hai mươi đồng. Bà mua hai ô gạo, một lon mắm rồi đi nhanh về nhà. Bỏ đôi gánh khỏi vai, bà đi gặp ngay dì Phụng. Bà cho dì Phụng biết tin bà đã gặp được anh em du kích. Hai bà bàn cách bí mật nấu cơm tiếp tế. Hôm sau, bà và dì Phụng đi làm. Ba anh du kích được ăn hai gói cơm to.
Dân quê hắn tiếp tế cho du kích từng gói cơm để trụ bám đánh Mỹ. Tiếp tế bí mật, phân tán, không ai biết ai. Tiếp tế vì thương yêu chứ không phải để sau này báo công Cách mạng. Súng đạn vẫn nổ liên tù tì nhưng dân thì vẫn đi về tiếp tế, du kích vẫn xuất hiện, lâu lâu bắn “tắc cù, tắc tắc cu”. Tiếng súng như nhắc nhở “có tau đây” làm cho Mỹ và binh sĩ Cộng hoà mất ăn mất ngủ.
Tết Mậu Thân đánh lớn. Du kích dẫn đường, bộ đội chính qui miền Bắc đánh vào đồn, vào chợ Hà Tân. Nhà hắn tạm trú ở gần chợ. Bộ đội vào chợ, trụ đánh đến sáng mà không rút lui. Mẹ hắn nói với bộ đội: “Chú nè, sáng rồi chú rút ra chứ. Ở đây Mỹ lên bắn chết hết”. Chú bộ đội trọ trẹ giọng Bắc: “Đánh không rút, bữa nay không rút. Giải phóng chứ không rút”. Mẹ hắn nghe vậy, dẫn tụi hắn chạy. Hơn một giờ sau thì máy bay lên rải thảm khu vực chợ. Nhà cửa tan hoang, không ai sống.
Trận đó chết nhiều. Du kích, bộ đội phải rút sâu vào núi cao. Đói. Nhiều người chết đói, chết sốt rét, nhưng không ai dám ra làng gặp dân để nhờ giúp đỡ. Hắn không còn gặp du kích như trước nữa.
*
*    *
Hắn đi học. Rồi đi buôn bán. Đầu tiên hắn buôn xóm. Bán kem. Một cái thùng xốp có ủ đá lạnh, chứa những thanh kem dài có rãnh ngang, ai mua thì hắn cắt khúc vừa đủ, rồi dùng que tăm cắm vào thanh kem trao cho khách. Hắn rao lanh lảnh khắp xóm: “Kem cắt đây! Kem cắt đây! Kem cắt đây có dây có nhợ có dợ có chồng hai đồng một cây! Kem cắt đây! Kem cắt đây!..”. Mỗi ngày hắn kiếm được gần năm mươi đồng phụ với mẹ hắn lo gạo. Hắn chỉ bán cà rem vào dịp nghỉ hè. Mùa hè nóng, nhiều người ăn kem. Hắn được nghỉ học. Đi bán kem tuy cũng nhọc nhằn nhưng có tiền nên hắn thích lắm. Có hôm gặp trời mưa, ít người mua. Mang thùng kem đi quanh làng xóm, rao khản cổ đến chiều mà chẳng ai mua. Đá tan, thùng hết lạnh, kem tan chảy nước. Hắn tiếc của ngồi mở thùng kem ra ăn. Có hôm ăn, húp gần nửa thùng kem, ngán! lỗ! Có hôm đang rao lanh lảnh “Kem cắt đây!” thì chó sủa, rượt chạy. Chạy một đoạn rồi ngoảnh mặt lại thì thấy một ông hùng hổ chạy theo quát “Từ nay mi không được rao bán kem, con tau đòi, khóc, không ai dỗ.”. Hắn không nói lời nào. Hôm sau hắn tránh chỗ đó. Có hôm phải đi qua đoạn đường đó thì hắn lặng lẽ. Nhưng mà con nít rất thính. Trẻ con phát hiện ra hắn đi qua là kêu toáng lên: “Ê kem, ê thằng bán cà rem, mẹ ơi mua cà rem!”. Ồn  ào, trẻ em đòi, chó sủa. Thế là hắn bị chửi. Có người thương hắn vừa mua vừa giúp. Có người chửi không biết thiệt hay giỡn nhưng nghe như thơ: “Tổ cha thằng bán cà rem, đi lên đi xuống cho em tau đòi”.
Vào năm học thì hắn không đi bán kem được. Buổi sáng hắn phải đi học. Xong buổi học là hắn chạy ngay về nhà, lục nồi cơm nguội ăn qua quít rồi chạy ra sông, ra chợ la cà, tắm sông. Chợ ở sát mé sông. Có nhiều thứ. Bên kia sông là sân bay Thượng Đức có nhiều lính Mỹ, lính Đại Hàn. Băng qua chiếc cầu là hắn có cơ hội nhận được quà của Mỹ. Lần đầu thấy Mỹ, bọn hắn sợ, đứng xa nhìn. Mỹ vẫy tay gọi hắn: “Ê! bé by, lại đây”. Hắn sợ, thụt lùi. Thằng Lâm, hơn hắn hai tuổi, đẩy lưng hắn: “Mi lại đi, Mỹ cho kẹo đó”. Hắn bước tới, Mỹ nắm tay hắn dắt vào trại. Mỹ nói, Mỹ cười, hắn không hiểu. Hắn sợ chỉ đứng nhìn. Rồi Mỹ cho hắn một thùng các-tông, bên trong đựng sáu hộp. Một hộp là thịt gà, một hộp là thịt bò - gọi là thịt ba lát, một hộp là bánh quy, mấy hộp khác hắn không nhớ tên nhưng hộp nào cũng ngon. Đó là lần đầu tiên hắn nhận được quà Quân Tiếp Vụ của Mỹ. Sau đó, nhiều lần hắn được ăn đồ Mỹ nhưng không lần nào ngon bằng lần đó. Mỹ cho hắn đồ hộp, hắn biết ơn lắm. Ngày nào hắn cũng ra sân bay ngóng Mỹ, nhất là ông Mỹ mà hắn đã quen. Hắn nghĩ cách đền ơn ông Mỹ. Hắn chẳng có gì để đền ơn. Hắn nghĩ Mỹ thích nuôi chó. Đi ngang qua quán bà Thiều, thấy một con chó con đẹp, hắn trấc trấc, con chó chạy theo. Hắn ẵm con chó ra sân bay tìm Mỹ để đền ơn. Mỹ ô-kê. Hắn theo Mỹ vào trại chơi một lúc thì được quà. Ngày nào hắn cũng có quà Mỹ. Nhận quà Mỹ, hắn phát ghiền. Đi học về là hắn chạy một mạch ra sân bay ngóng Mỹ. Cũng có nhiều đứa trẻ nhận được quà Mỹ, nhưng không ai được nhiều như hắn. Mỹ nhờ hắn làm gì hắn cũng làm. Hắn lấy nước cho Mỹ, xúc cát bỏ vào bao cho Mỹ làm hầm tránh pháo, đi tắm với Mỹ. Mỹ cho hắn xem một vật gì giống hai ống tre ghép lại, dòm qua sông thấy ghe san sát, dòm vào núi thấy từng bụi cây, dòm đâu cũng thấy rất rõ như trước mắt mình. Gặp thằng Lâm hắn khoe:
- Mỹ có cái chi mà xa thấy gần! xa thấy gần! Mỹ mới cho tau xem, thấy rõ lắm, như trước mình mặt mình ri nè!?
- Ống dòm chứ cái chi!.
- Ống dòm để làm chi? Hắn hỏi lại.
- Để dòm chứ để làm chi. Mi mà có ống dòm, mi dòm qua bãi sông thì ai tắm cởi truồng là mi thấy hết!
Dân quê hắn tắm ở sông, con gái chui vào lùm cây, bụi cỏ để thay đồ. Tụi hắn dòm trộm rồi phá ra cười.
Từ hôm ấy, hắn có ý muốn cái ống dòm của Mỹ.
Thị trấn Thượng Đức là một thung lũng, bốn bề núi non hiểm trở. Con đường độc đạo 14B có từ thời Pháp thuộc, chạy từ Đà Nẵng lên thị trấn Ái Nghĩa rồi cặp sát sông Vu Gia lên Thượng Đức là cụt. Mỹ đến Thượng Đức, quân đông, súng ống đạn dược có thừa, nhưng không thể đi an toàn trên đường 14B này. Mỹ xây dựng sân bay trên cánh đồng thung lũng Đại An để tiếp tế cho cả vùng Thượng Đức. Mỹ đóng quân để bảo vệ sân bay. Sân bay đồng thời là hậu cứ của Mỹ sau những đợt hành quân tiểu trừ Vi-ci. Vành đai sân bay có nhiều lớp rào bằng dây kẽm gai có cài mìn. Bên trong, sát hàng rào dây kẽm gai là những hầm, ụ súng, bố trí xen kẽ những chiếc tăng Em-mờ Bốn Tám hoặc Em-mờ Một Một Ba (6-M.48; M113: tên xe tăng). Mỗi khi có pháo kích của Vi-ci vào đồn hoặc sân bay thì lập tức xe tăng Mỹ xoay nòng đại bác vãi đạn bốn bề vào các vách núi thung lũng Thượng Đức. Ống dòm là thiết bị quân sự của Mỹ dùng để quan sát bốn bề núi non, phát hiện truy lùng Vi-ci. Hắn tính lấy cái ống dòm này để cho du kích dòm mà tránh Mỹ.
Ông Giôn (7-John: tên thêu trên ngực áo người lính Mỹ) nói cho hắn biết ba ngày nữa, Giôn sẽ chia tay hắn. Thế là buồn. Hôm đó Giôn cho hắn nhiều đồ hộp hơn mọi ngày. Cho cuốc, xẻng, búa, đinh... Hắn muốn cái ống dòm nhưng Giôn vừa nói “hến xào”(8-cấp chỉ huy), vừa đưa tay cứa cổ. Hắn hiểu là Giôn không cho vì sợ “hến xào cắt cổ”.
Hắn rình lấy trộm cái ống dòm trước một ngày Mỹ rút quân. Nghe đâu Mỹ dẫn lính đi tìm hắn. Mỹ biết mặt hắn nhưng không biết tên. Đối với Mỹ, tụi hắn đứa nào cũng giống nhau, đen đủi, ốm nhách, lủi như dế. Hắn sợ Mỹ tìm nên giấu cái ống dòm trong thùng trấu rồi lủi ra cầu tiêu công cộng giả vờ ỉa, đóng chặt cửa cầu, ngồi trong đó suốt một buổi. Báo khổ, nhiều người đợi không được, nín không xong, phải ỉa bậy bên ngoài.
Ngày hôm sau thì Mỹ rút quân khỏi sân bay. Ngày hôm sau nữa, hắn lân la ra sân bay thì thấy lính Nam Triều Tiên lên thế lính Mỹ. Quê hắn gọi lính này là lính ma-phọt. Không biết phọt phẹt cái gì nhưng súng ống tua tủa, mặt mày dữ tợn. Hắn làm quen, rồi nhận các bi-đông để lấy nước cho lính nấu ăn. Mỗi bi-đông nước, hắn được lính trả một gói kẹo đậu phụng, gọi là kẹo la-xông, có sáu miếng. Cứ thế, ngày nào hắn cũng ra sân bay la cà. Hôm lính ma-phọt sắp rút, hắn đi lấy nước cho lính rồi mang hơn chục cái bi-đông đi thẳng. Đơn vị này rút thì có đơn vị khác lên thay. Hắn vẫn la cà.
Thời gian qua mau, lên lớp Bốn, hắn lớn. Hắn về lại làng cũ để hái lượm. Gặp lại du kích, hắn mừng rồi khoe: “Em lấy được ống dòm của Mỹ, dòm đâu cũng thấy, cái gì cũng thấy”. “Đâu? Em đem đây anh đổi cho em một bao ổi núi”- anh Xử (9-du kích, quê ở thôn 14, Đại Lãnh) nói. Hắn luồn được ống dòm qua trạm gác khu Dồn rồi đem vào cho du kích. Ỷ có ống dòm quan sát từ xa, anh Xử lội xuống Ba Khe dòm Mỹ nên bị lính phục kích bắn chết. Sau này gặp lại, anh Như – bí thư xã, nói với hắn: “Tại cái ống dòm của mi mà thằng Xử chết”. Số bi-đông lấy được của lính ma-phọt, hắn cũng cho du kích.
Du kích nhờ hắn mua sắm tiếp tế cái gì hắn cũng làm. Muối, dép lốp, thuốc, mực viết, có khi mực đỏ. Tới chừ, hắn cũng không hiểu mua mực đỏ làm chi. Nhặt nhạnh được cái gì có thể dùng được là đem vào cho du kích. Có lần trời mưa, hắn đi ngang qua lô cốt Phong Trào, thấy bốn trái lựu đạn Em-mờ Hai Sáu (10-M26: một loại lựu đạn sát thương của Mỹ) móc trên một dây thắt lưng, treo lủng lẳng. Lính trú mưa, không để ý, không nhìn thấy. Hắn bò vào lấy được, men theo khe, đem cất giấu ở bờ sông, chờ dịp thuận tiện mang vào cho du kích. Hắn thương du kích khổ cực, không được lĩnh lương như lính, thiếu thốn đủ bề. Gặp du kích, bao giờ hắn cũng có tin này, tin kia, kể cho du kích nghe. Hắn là chúa la cà, nghe lén mà.
Hắn đi học. Học Lịch sử. Đến chỗ Lê Chiêu Thống cầu viện quân Thanh, cô giáo Lan giảng:  “Quân Thanh mượn cớ phò Lê diệt Tây Sơn đem quân xâm lược nước ta. Lịch sử cho thấy hễ mỗi lần xâm lược thì bọn xâm lược mượn cớ, mượn chiêu gì đấy. Nhưng cứ đem quân vào là xâm lược. Cớ, chiêu gì thì cũng là xâm lược”. Hắn suy ra: “Quân Mỹ là đội quân xâm lược trên quê hương hắn”. Cô Lan là người sinh ra trong một gia đình mà hầu hết làm việc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cô đang lãnh lương của Mỹ nhưng lại truyền cho hắn tình yêu nước và chống Mỹ xâm lược. Không biết vô tình hay cố ý, nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đã góp phần đào tạo những con người “ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” như hắn. Hắn thuộc nhiều bài thơ trong chương trình tiểu học của Việt Nam Cộng Hoà, trong đó có bài Tập vẽ bản đồ:
Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẽ ô rõ ràng.
Ranh giới có phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau,
Từng nơi, thầy thuộc làu làu.
Đây sen Đồng Tháp, đây cầu Hiền Lương.
Biển Đông Hải trùng dương xanh thẳm
Núi cheo leo, thầy chấm màu nâu,
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sóng xanh nước biếc, rừng sâu trập trùng!
Rồi với giọng trầm hùng thầy giảng:
Giống rồng tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng phế hưng,
Đem dòng máu thắm bón từng gốc cây
...
Giờ thì hắn không chắc nhớ chính xác hết bài, nhưng được học thế này thì không một đội quân xâm lược nào có thể ở lâu trên quê hương đất nước hắn. Hắn theo du kích.
Hết lớp Nhất thì hắn trốn nhà, vào hẳn khu du kích. Chú Đào – đảng ủy - dặn hắn chuẩn bị ba bộ quần áo, một đôi dép lốp loại tốt, mấy thứ lặt vặt mang vào trước, rồi chú sẽ đón hắn ở thôn Hai. Hắn lặng lẽ, không cho ai biết. Hắn chỉ có hai bộ quần áo. Thiếu một bộ, hắn lấy của anh hắn. Sáng hôm ấy, mẹ hắn về làng cũ theo đường ruộng. Chờ cho mẹ ra khỏi nhà, hắn mặc trong người ba bộ quần áo rồi qua trạm gác Khe Ông Má, đi thẳng đường núi vào thôn Hai. Đêm hôm ấy, không thấy hắn về nhà, mẹ hắn biết là hắn đã theo Cách mạng. Bà báo cho ấp trưởng biết là con bà đã bị Việt Cộng bắt. Bà bị an ninh Việt Nam Cộng Hòa bắt lên đồn đánh đập, hù dọa bắt “phải tìm con về”. Bà vào làng gặp các anh du kích. Các anh bày bà cách trả lời với lính “con tôi bị Việt Cộng bắt, dẫn đi mô không biết”.
Ban đầu, mới vào du kích, ăn bắp nếp mà bị phỉnh là xôi, hắn ngán đòi ăn cơm. Sau mới nhận ra là ở khu du kích không ai được ăn cơm. Có rất ít lúa, dự trữ để nấu cháo cho người ốm hoặc bị thương. Mọi người đều ăn bắp vì chỉ trồng được bắp. Đêm đầu tiên hắn chưa được phát võng nên ngủ trên tấm ván không có chăn màn. Muỗi vo ve. Anh Sáu đã ngồi quạt cho hắn ngủ suốt đêm. Các anh du kích gọi hắn là đồng chí cọt-cọt (11-đồng chí nhỏ.). Hôm sau thì hắn được phát võng nhưng chưa có bọc. Lại một đêm chống chọi với muỗi. Hắn được phát võng, bọc, một tấm dù và khẩu súng Cê-Ka-Cê (12-CKC: một loại súng bán tự động của Nga) dài. Hắn có trách nhiệm học thuộc những bài hát để theo du kích hát vận động dân. Đầu tiên là bài Mười Thương Du Kích (13-mười lý do thương anh du kích): ”Một thương, em cảm thấy anh bình thường, cần cù lao động mến thương đồng bào/Hai thương, anh chẳng ngại gian lao, khi cần bất cứ nơi nào anh cũng đi ...Năm thương, anh rất tài ba, đánh giặc cũng giỏi, tăng gia cũng tài/ Sáu thương, anh giữ vẹn vành đai, hầm chông cạm bẫy mìn gài bao vây...”. Rồi hắn thuộc cả những bài như Tiếng Đàn Ta Lư: “Đi chiến trường/gùi trên vai nặng trĩu/đàn ta lư em  ...”. Hắn thuộc lòng năm bước vận động quần chúng và nhiều bài hát, bài thơ Cách mạng rồi theo du kích tìm gặp dân để tuyên truyền, vận động. Một hôm, nhiều người dân về làng cũ để hái lượm kiếm sống thì hắn mang khẩu súng Cê-Ka-Cê: xuất hiện cùng với hai du kích. Các anh nói về chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, rồi giới thiệu hắn – một đội viên của xã – hát những bài hát cách mạng để phục vụ bà con. Hắn choàng một tấm dù, mang dép cao su, khoác súng Cê-Ka-Cê dài sát đất, vừa hát vừa múa, biểu diễn theo ý hắn. Hắn hát bài Trở  Lại Làng Xưa: “đêm nằm nghe nhạn kêu sương/càng trông càng nhớ càng thương càng chờ/ruột rà đâu dễ làm ngơ/sống chi trong kìm kẹp từng giờ khổ đau/sớm chiều mưa nắng bên nhau/về đây đoàn kết trước sau một lòng ... /quân tàn bạo bay gây ra tang tóc/con khóc cha vợ lại khóc chồng/biết chi cùng giọt máu hồng/biết chi ruột thịt cùng chung giống nòi/rước voi giày xéo quê hương/mồ cha chúng cũng ủi, trắng xương chúng cũng cày/ cái quân quen liếm gót giày/người thân cũng bắt đoạ đày tấm thân/không đánh người thì chúng ngứa tay chân/lập khu dựng ấp lùa dân nhốt vào ...”. Nhiều người ngồi nghe nước mắt chảy dài.
Hắn theo du kích tháo bom, đạn lép của Mỹ để lấy thuốc nổ làm mìn. Mìn đặt lung tung, không chết Mỹ mà chết du kích, chết dân. Một số anh đặt mìn rồi quên, đi lại dậm lên mìn do chính mình cài. Có khi anh này cài, anh kia dậm. Chết thảm. Một hôm hắn đi với anh Như gặp chú Hai bàn chuyện đặt mìn giật sập cầu Hà Tân. Chú Hai hỏi anh Như: “Giật sập cầu thì mai mốt giải phóng lấy cầu đâu mà đi?”. Anh Như đáp: “Dễ ợt, miền Bắc đã tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mình kết nghĩa với tỉnh Thanh Hoá, mai mốt Thanh Hoá sẽ giúp đỡ tỉnh mình câu vô từng nhịp, từng nhịp lắp lại là mình dùng, có chi đâu mà lo”. Cầu Hà Tân bị mìn giật sập. Hơn hai mươi năm sau ngày thống nhất đất nước, quê hương hắn mới có cây cầu thay thế cầu Hà Tân. Mỗi lần nhớ lại chuyện này là hắn nhớ từng nhịp, từng nhịp rồi cười một mình. Cuộc đời chi lạ. Hồi đó, hắn và các anh đều tin rằng Thanh Hóa cũng làm cầu nhanh như Mỹ.
Hắn đang vui với đời sống du kích thì một hôm anh Nam-chủ tịch và anh Như-bí thư gọi hắn lại ngồi nói chuyện nghiêm túc. Các anh hỏi hắn: “Em thích đi học không?”. Hắn trả lời: “Đi học là em thích lắm”. Rồi các anh nói một thôi một hồi về chính sách của Đảng đào tạo thế hệ Cách mạng cho đời sau. Hắn nghe không hiểu lắm nhưng nhớ ý các anh là hắn sẽ phải đi học để sau này về xây dựng lại quê hương. Đi miền Bắc xa lắm. Đêm hôm ấy hắn không ngủ. Hai mùa rẫy nữa là hắn trưởng thành, đánh giặc không thua gì các anh. Bạn hắn, chẳng đứa nào đi học. Một số đứa giữ trâu, cắt cỏ. Một số đứa theo du kích làm giao liên. Ra miền Bắc làm gì. Nhiều người đi tập kết đã gần hai mươi năm rồi mà chưa về. Đi xa, hắn nhớ mẹ, nhớ quê lắm. Hắn không đi. Ở đây với du kích, sống chết chi cũng vui.
Hắn theo đường sông vào Hiệp, rồi theo đường giao liên băng rừng, lội suối qua Thác Cạn, lên tỉnh để vượt Trường Sơn ra Bắc. Hắn đi nhưng lòng không vui, nước mắt như mưa. Lên đến Thạnh Mỹ, chờ ra Bắc thì hắn trốn. Cũng có một số đứa trốn như hắn về lại được khu du kích nhưng hắn trốn lọt mà đi không lọt. Hắn phải đào ngũ đến lần thứ sáu mới thoát về đến khu sản xuất của du kích ở Hiệp, thuộc huyện Hiên. Anh Trương Đình Nam nghe hắn đào ngũ, không theo đoàn ra Bắc để học, liền bỏ việc xã, tức tốc từ  khu du kích xã lên Hiệp gặp hắn. Chiều hôm ấy, anh Nam dẫn hắn ra suối ngồi tâm tình. Anh nói: “Em à! con nguỵ quân, nguỵ quyền được học, còn con em gia đình Cách mạng vì hoàn cảnh  bị thất học. Chỉ có em là học được đến lớp Nhất. Em phải tiếp tục học để sau này xây dựng lại quê hương. Đây là nhiệm vụ. Em phải đi miền Bắc và ra miền Bắc phải cố gắng học thật giỏi. Ở nhà, đánh giặc đã có các anh lo.” Hắn lau nước mắt, thẹn thùng, miễn cưỡng ngày mai lên đường. Hắn bướng lắm, nếu không phải là anh Nam thì hắn không nghe đâu. Anh Trương Đình Nam trực tiếp dẫn hắn lên đường giao liên Trường Sơn để hắn ra Bắc đi học. Anh Nam quay về làm nhiệm vụ rồi hy sinh. Anh bị lính bắt sống rồi bắn chứ không xét xử, không cho làm tù binh. Hắn đang học, nhận được tin anh Nam hy sinh, hắn khóc, mấy ngày liền không ăn được cơm. Đến bữa, hắn bưng chén cơm chan đầy canh toàn quốc, lèo tèo vài cọng rau rồi húp. Trong lòng hắn trào dâng nỗi đau và thù hận.
Miền Bắc xã hội chủ nghĩa không phải là thiên đường như anh các anh du kích ca ngợi, động viên hắn trước lúc lên đường. Miền Bắc đói khổ lắm. Hắn không sao quên được hình ảnh những người dân xã Hà Dương, Hà Trung, Thanh Hóa, mặc áo mỏng manh, khâu vá nhiều chỗ, đi trong tiết trời lạnh rét, dắt hai con bò và vác sáu tấn mía cho học sinh miền Nam Trường Mười Sáu ăn tết. Hắn nghĩ, những người dân vùng này đói hơn hắn, không chắc có thịt bò ăn tết, nhưng đã nhường phần cho tụi hắn.
Hắn bị sốt rét cơn từ những ngày đầu vượt Trường Sơn, nhưng không chết dọc đường như một số bạn bè hắn. Ra đến Hà Nội thì bệnh rốt rét tái phát. Hắn sốt, lạnh run người, sưng lá lách, bụng to. Hắn được đưa đến bệnh viện E2 Từ Liêm, Hà Nội để điều trị nhiều lần, khá lâu. Hết sốt được vài tuần, bác sĩ cho xuất viện để về đi học. Nhưng chưa kịp đi học thì hắn bị sốt lại. Ra vào mãi bệnh viện nên hắn quen hầu hết bác sĩ, hộ lý, chị nuôi ở bệnh viện. Ai cũng thương hắn. Một lần trở lại bệnh viện, hắn khoe với Bác sĩ Tính: “Em vừa được kết nạp đội cô à”. Cô thấy hắn quàng khăn đỏ mỗi khi sinh hoạt cuối tuần, cô khen: “Em quàng khăn đỏ trông đẹp lắm!”. Ngày chia tay bệnh viện, về Tê Sáu Tư (14-T.64: một trại đón tiếp Học Sinh Miền Nam, một khu đất, hồ ao bao bọc, ở gần gò Đống Đa), để chuẩn bị đi học ở trường Học Sinh Miền Nam, bác sĩ Tính viết vào sổ lưu niệm tặng hắn:
Cô thương lắm bao đàn em nhỏ,
Vượt Trường Sơn lội suối băng rừng.
Đâu có phải như những như ngày chập chững
Nay lớn rồi, em đã vững bước xa.
Tạm biệt quê hương và những mái nhà,
Nơi ấp ủ em những ngày thơ ấu.
Em ra đi giữa những ngày tranh đấu,
Có miền Nam yêu dấu kiên cường.
Rầm rập đoàn quân, đội ngũ xuống đường,
Giáng bổ xuống đầu quân Mỹ-Ngụy.
Trong người em mang đây dũng khí
Vì có cha em là Giải Phóng Quân.
Ngày ra đi cha dặn kỹ bao lần
Ra miền Bắc cố học hành tiến bộ.
Rồi hôm nay em được khăn quàng đỏ.
Chắc cha mừng, cha nổ súng giòn  hơn.
Về trường, hắn được thầy cô chăm sóc, dạy dỗ tận tình. Hắn trưởng thành trong đời sống tập thể, kỷ luật và đầy tình thương yêu. Hắn được coi là “hạt giống đỏ miền Nam gieo trên đất Bắc”.
Ngày trở lại 1975, quê hương tan nát nhiều. Bà con hắn chết nhiều hơn sống. Bên nào cũng chết. Hắn hỏi người này, người kia, bạn bè rồi biết rất nhiều người chết không toàn thây, chết không được chôn. Chiến tranh và thù hận thật khốc liệt. Hắn tiếp tục đi học trong tình cảnh “dân có ruộng dập dìu hợp tác” nên nhà hắn chẳng có gì. Đói. Thượng Đức bị tan tành sau trận đánh kéo dài gần mười ngày vào tháng Tám năm 1974. Nhà ở khu Dồn bị cháy, mẹ hắn trở về làng cũ dựng một túp lều tranh trên bốn gốc cây ngâu. Trời mưa, mái tranh như cái rổ sổ nước, ướt tứ phía. Cuộc sống còn khó khăn hơn thời chiến tranh. Giờ này ngồi trên máy bay nhớ lại, hắn ngẫm nếu có cuộc thi đói nghèo thì quê hắn đoạt giải nhất. Làng hắn đoạt giải nhất, rồi mẹ hắn đoạt giải nghèo nhất làng. Tất nhiên, bà phải trở thành người nghèo vô địch Việt Nam.
Ngày qua ngày củ khoai, củ sắn,
Mẹ anh thường câm lặng nếp trán nhăn.
Và nhọc nhằn nhiều đêm thức trắng
Bên nong tằm dệt những ước mơ
Mong ngày mai tằm nhả tơ, ươm kén
Cho đứa em thơ vui chén cơm đầy
Ngửi mê say mùi vải áo mới may
Hạnh phúc bình thường, sao cũng quá tầm tay?
Nên mẹ khóc một mình, khuya ngọn đèn hiu hắt!.(1)
Hắn không biết tương lai nhưng biết chắc là hắn đã rất nặng nợ với quê hương. Quê hương hắn tội nghiệp lắm! Rất nhiều người đã làm tất cả những gì có thể để xây dựng quê hương theo cách của họ, nhưng quê hương vẫn đói nghèo, môi trường bị huỷ hoại, không còn đường mưu sinh, phải chạy tứ tán.
Máy bay đã lên cao. Bay êm. Con hắn vẫn ngủ. Hắn mơ màng về quá khứ, nghĩ về hiện tại, hình dung tương lai rồi vào giấc ngủ lúc nào không biết.
biệt kích Mỹ ở Thượng Đức


Lính Mỹ ở Thượng Đức





Du kích với súng CKC 



Đường lên khe Ông Má







lính Mỹ làm hầm bằng bao cát.

Phần 1 Chuẩn bị đi





Năm lúa



Phần một
Chuẩn bị đi


Nếu không đi chỉ vì sợ gãy chân thì
chẳng khác nào đôi chân đã gãy.


Hắn không có một mối liên hệ nào bên Mỹ. Không nghe nói được tiếng Anh, không bà con, không quen biết ai bên Mỹ. Đời hắn đi tới Sài Gòn đã là xa lắm rồi. Quê hắn, nếu không có chiến tranh phải chạy tránh cái chết, cái đói thì không mấy ai tới được Sài Gòn. Lần đầu, hắn nhảy tàu đu bám vào được Sài Gòn, hắn cũng không quen biết ai. Vậy mà rồi hắn cũng lập nghiệp được ở Sài Gòn. Bây giờ hắn đi Mỹ, cách nửa vòng trái đất, mà hắn coi dễ hơn lần đầu đi Sài Gòn. Hỏi hắn đi Mỹ làm chi? Hắn nói như giảng bài: “Một là tau dẫn con qua Mỹ đi tìm trường cho nó học; hai là coi ở Mỹ có gì hay, có gì mua, có gì bán, có gì làm, có gì bắt chước. Tóm lại, tau muốn tìm cách bán cái gì đó cho Mỹ và mua đồ Mỹ về bán ở Việt Nam, qua đó học Mỹ, nói cho con cháu biết là nên chơi với Mỹ, học Mỹ”. Các lý do mà hắn đưa ra nghe rất ngộ!
Hắn nói muốn giỏi, muốn làm giàu thì trước hết không được ghét người giỏi, người giàu. Đi học, muốn học giỏi mà ghét thằng học giỏi thì khó mà học giỏi. Chơi với thằng kém thì mình cũng kém như nó, có khi còn bị nó xúi làm bậy. Muốn giàu mạnh mà lại ghét thằng giàu mạnh thì chỉ có yếu! Không ai phấn đấu để trở thành kẻ mà mình ghét. Mình muốn “sánh vai với các cường quốc năm Châu” thì không được ghét “cường quốc năm Châu”. Mỹ là cường quốc số Một. Chơi với Mỹ, gần Mỹ để học Mỹ. Cách chơi tốt nhất, lâu bền nhất vẫn là cách chơi sòng phẳng: Kinh tế hàng hóa. Đã là hàng hóa thì phải trao đổi. Trao cái gì để đổi cái gì chứ không thể lấy không. Giả sử, họ có thương tình cho không, biếu không thì lâu ngày quen thói ăn của bổng, làm biếng thành gà công nghiệp. Cởi trói, tháo chuồng là khiếp vì không tự bươn chải kiếm ăn được, phải xin trở lại vào chuồng. Hắn tìm cách buôn bán với Mỹ, học Mỹ và cho con qua Mỹ học.
Hôm đọc báo tuổi trẻ thấy tin “Trung Quốc xuất khẩu nông dân qua châu Phi”, mỗi năm, một nông dân gửi về nước được mười ngàn đô-la, hắn để ý lắm. Hắn đã nghĩ đến chuyện qua châu Phi trồng lúa, trồng khoai bán cho dân châu Phi. Đất châu Phi rộng, phì nhiêu, nhưng dân châu Phi không biết trồng. Đói. Nông dân Trung Quốc trồng được thì mình cũng trồng được. Hắn còn vẽ viễn cảnh qua Ca-mơ-run trồng lúa, rồi lấy vợ là con cháu của Rô-giê Mi-la, sinh con trai, dẫn về Việt Nam gửi vào lò đào tạo Hoàng Anh Gia Lai để tập đá banh thì nhiều khả năng sẽ vô địch châu Á. Nhưng rồi hắn không đi châu Phi mà đi Mỹ. Hắn nói ưu tiên phát triển quan hệ với My. Rồi hắn giải thích một thôi một hồi chuyện kinh doanh, vì sao yên tâm buôn bán với thằng giàu.
Theo kinh nghiệm mưu sinh của hắn thì buôn bán là chuyện giản dị. Hồi nhỏ, hắn thấy mấy bà buôn từ chợ thôn ra chợ xã, chợ xã ra chợ huyện, chợ huyện ra chợ tỉnh, người ở chợ tỉnh thì đi chợ Sài Gòn; người nào mà ra được cái chợ càng lớn thì càng giàu, buôn bán được với chợ Sài Gòn là giàu nhất.
Bây giờ hắn ở  Sài Gòn thì hắn phải đi cái chợ ở Mỹ. Không thể làm gà què ăn quẩn cối xay.
Hắn nói chuyện đi chợ, chuyện cấm đi chợ, hay cấm vận cứ  tự nhiên như lúa. Quê hắn có câu: “Nóc nhà xa hơn chợ, L. vợ gần hơn mả cha”. Rồi hắn giải thích: “Nhà dột từ nóc nhưng cứ hẹn lần hẹn lữa, không ai chịu trèo lên nóc để chống dột. Khi mưa bị dột thì hẹn trời nắng; khi nắng không dột thì hẹn để từ tư! Nhưng chợ thì ngày nào cũng đi, bất kể mưa hay nắng. Vợ thì tối nào cũng R, còn mả cha thì cả năm không viếng”. Từ đó hắn kết luận: “Bị cấm đi chợ là đau khổ nhất, sợ nhất”. Buồn buồn là Mỹ ra chiêu cấm đi chợ. Chợ Vê-đúp-tê-ô (1-WTO) là chợ thế giới, lắm kẻ mua người bán mà không được vô thì trăm năm Kiều vẫn là Kiều. Bây giờ Việt Nam không còn bị cấm vận nữa, hắn vào Mỹ để tìm cách mua bán với chợ lớn, chợ của người giàu, nhộn nhịp nhất thế giới. Nếu chưa làm được gì để bán thì hắn bán rau muống, bán trà đá để sống rồi từ từ tính tiếp. Ở gần thằng giàu, mua bán với thằng giàu hắn không thiệt. Chịu đựng một thời gian thì đời con hắn cũng bình đẳng với họ. Hắn tin là vậy.
Chợ Mỹ là chợ khó tính à nghen! Hắn biết. Vô cái chợ đó là phải tuân thủ đủ điều. “Tất nhiên” - hắn phán! Hồi trước, các bà đi chợ thôn, chợ làng thường mặc váy, không mặc quần lót như bây giờ. Ra đến chợ, đứng trao đổi một vài món rồi về khi mặt trời chưa mọc. Nhưng rồi, cũng có người mặc váy ra đến chợ kinh đô mua bán, ngồi suốt buổi. Ngồi xuống là quan thấy, quan tâu. Vua Minh Mạng phải ra chiếu “cấm quần không đáy”, dân than:
Chiếu vua Minh Mạng ban ra,
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang?
Vua Minh Mạng cấm quần không đáy là đúng nhưng vẫn cứ bị dân than oán không phải vì mượn quần chồng mà vì đã quen hưởng cái tự do để hiu hiu gió thổi!
Khó khăn lắm dân mình mới chấp hành chiếu vua, mặc quần có đáy để đi chợ. Dân chấp hành một thời gian rồi quen thanh lịch như người Tràng An. Hắn sẽ cố gắng thanh lịch để đi chợ Mỹ. Dễ mà! Thế là hắn chuẩn bị đi Mỹ.
Hắn gõ vào Gu-gồ (2-Google) hai chữ “đi Mỹ” để tìm hiểu. Gu-gồ cho hắn biết kinh nghiệm, thủ tục đi Mỹ, nơi có dịch vụ du lịch Mỹ. Hỏi qua, hỏi lại một số nơi rồi hắn chọn Sài-gòn-tua-rít (3-Saigontourist: có khi hắn nghe đọc là Sài-gòn-tau-rít) để đăng ký chuyến đi từ miền Đông qua miền Tây nước Mỹ vào dịp lễ Nô-en đến tết Tây. Hắn đến gặp cô Quỳnh Như  - nhân viên đăng ký tua (4-tour). Cô hỏi hắn đủ thứ, hắn nói thiệt nhưng cô hỏi nhiều quá làm hắn bực: “Bỏ tiền đi du lịch chứ có làm gì đâu mà khó zdữ zdậy?”. Cô tròn mắt nhìn hắn rồi nói: “Đi Mỹ khó lắm anh ơi, em nhận cọc của anh một ngàn đô, nếu phỏng vấn mà không được vi-za (5-visa) thì anh mất một trăm bảy chục đô,  ráng chịu nghen?”.
- Tại sao không được? - Hắn hỏi.
- Tại vì Mỹ sợ dân mình vào Mỹ ở lại luôn! - Cô từ tốn trả lời.
- Nhưng anh là người thật sự không cần ở lại Mỹ mà.
- Vậy anh phải chứng minh.
- Chứng minh thế nào?
- Anh có giấy chủ quyền nhà không? Có giấy kinh doanh không? Có sổ tiết kiệm gửi ngân hàng không?
- Có. Có vài cái nhưng đem cầm ở ngân hàng hết rồi. Giấy đăng ký kinh doanh thì có nhiều hơn giấy nhà. Tiền thì có nhưng không gửi ngân hàng, nếu cần thì gửi vào để làm sổ.
- Thôi, có gì tùy anh nhưng anh phải chứng tỏ cho Mỹ thấy là anh có nhu cầu quay về sau chuyến đi. Mỹ nó cảm tính lắm anh ơi. Nó muốn cho ai vào Mỹ là quyền của nó. Nó không giải thích lý do đâu.
- Anh thật sự đi du lịch rồi về. Nếu Mỹ không cấp vi-za cho anh mà không nêu rõ lý do là anh kiện.
Những người có mặt nghe vậy cười ồ! Chắc họ nhận ra hắn là dân hay cãi!
Cô phát cho hắn tờ khai đăng ký đi tua rồi nói: “Em chưa thấy ai kiện Mỹ chuyện này bao giờ!”. Hắn thầm théc méc “Mỹ văn minh thì phải có cơ chế cho khiếu kiện chứ không thể tù mù như hắn”.
Hắn điền vào hai bộ tờ khai cho hắn và con hắn, nộp hai ngàn đô-la tiền cọc rồi bước ra sảnh. Rút điện thoại, hắn rủ bạn ra quán Cánh Buồm(5-Ở số 8 Lê Ngô Cát - Q.3) lai rai vài ve để khoe “sắp tới tau đi My”.
Bạn hắn, một người là Ba, sinh ở miệt Vĩnh Long - Trà Vinh, sống ở Sài Gòn đã gần bốn mươi năm nhưng vẫn giữ nguyên gốc lúa.
Một người là Bình, họ Dương Công, biệt danh là Phỉnh. Trong lúc trà dư tửu hậu, bạn bè gọi là Dương Công Phỉnh; Phỉnh cười!
Một người là Tuấn Kiệt, họ Lưu, quê ở Vĩnh Long, dáng người ô dề, râu tóc bờm xờm, da ngăm đen, ít khi chịu chăm chút quần áo, chỉ nhìn thoáng đã nhận ra ngay đây là Lưu Hai Lúa.
Một người là Nhân. Trần Văn Nhân gốc lúa Quảng Trị. Nói cho chính xác thì Nhân là lính, lính khùng, còn hắn là sếp. Lính nói giọng Quảng Trị, trọ trẹ nghe không rõ, nhưng được cái là rất chịu học bán hàng. Không biết rồi đây anh lính khùng này có trở thành người bán hàng vĩ đại hay không nhưng bây giờ thì thấy lính khùng quyết tâm lắm.
Những con người gốc lúa đó đã ngồi với nhau lai rai bàn chuyện Mỹ, kể chuyện Mỹ, nhưng chưa ai đến Mỹ. Và hắn nói cho bạn biết là “ngày mười bảy tháng mười Hai này, tau đi Mỹ”. Nghe nói vi-za vào Mỹ khó lắm nhưng hắn tin là Mỹ sẽ cho cha con hắn vào Mỹ.
*
*     *
Một tuần sau, cô Quỳnh Như gọi hắn đến văn phòng Sài-gòn-tua-rít để hướng dẫn trả lời phỏng vấn xin vi-za vào Mỹ. Cô yêu cầu mang giấy hồng chủ quyền nhà, giấy đăng ký kinh doanh, biên lai thuế, hợp đồng, chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, sơ yếu lý lịch, bằng cấp, giấy phép hành nghề. Cô nói: “Có gì mang hết theo để chứng minh Việt Nam là nơi có nhiều ràng buộc để anh phải trở về !”. Cái gì chứ giấy tờ thì hắn có nhiều. Hắn sống bao nhiêu năm nay trong môi trường gọi là quan liêu giấy tờ nên hắn có dư. Bằng cấp và sơ yếu lý lịch thì đã lâu không dùng đến nhưng hắn vẫn lưu giữ. Hắn lục lọi được một đống giấy tờ để đem khoe với Sài-gòn-tua-rít; chuẩn bị được khoe với Mỹ!
Cô Quỳnh Như xem, lọc loại một số giấy tờ, xếp thành tập rồi dặn hắn mang tập giấy tờ này để đi phỏng vấn. Cô đóng vai người phỏng vấn hỏi thử hắn trả lời xem có trôi chảy không, rồi dặn: “Anh không được nói với Mỹ là anh dẫn con anh đi tìm trường vì Mỹ sợ anh xin vi-za du lịch nhưng đưa con du học. Nhiều người Việt Nam mình làm như vậy rồi nên bây giờ Mỹ cảnh giác”. Cãi qua, cãi lại một hồi rồi hắn cũng đồng ý sẽ dặn con nói dối “đi du lịch, chứ không được nói đi tìm trường”. Cô nói thêm: “Em tin là hai cha con anh được cấp vi-za vào Mỹ. Em nhận bán tua nhưng cũng nhắm ai có khả năng được cấp vi-za em mới nhận; nếu không thì khách mất tiền còn em cũng mất uy tín lắm”.
Mười bốn giờ chiều thứ Tư, cha con hắn đến phỏng vấn ở Tổng lãnh sự Mỹ tại số 4 đường Lê Duẩn. Người phỏng vấn xin vi-za vào Mỹ khá đông, phải sắp hàng đợi. Hắn nhẩm tính số người rồi suy ra Mỹ thu được rất nhiều tiền. Nhiều người phải phỏng vấn đến lần thứ  hai, có người đến lần thứ năm mà cũng không được cấp vi-za. Mỗi lần là một trăm bốn muơi đô-la, qui ra gần sáu trăm ký thóc, nộp Mỹ. Hắn nghĩ: “Thu được tiền thế này thì giàu là phải, không biết đại sứ quán Việt Nam ở Mỹ thu được thế này không?”. Đang suy nghĩ miên man thì loa gọi hắn. Theo lời dặn của cô Quỳnh Như, hai cha con hắn tiến đến quầy. Hắn đưa tay, mở mắt to cho Mỹ rọi lấy dấu, lấy hình. Con hắn được miễn vì mới mười ba tuổi. Rồi hai cha con hắn ôm tập hồ sơ ngồi đợi phỏng vấn. Gần ba mươi phút sau thì hắn được gọi. Mỹ chỉ hỏi hắn một câu bằng tiếng Việt: “Anh là chủ công ty à?”. Hắn tự tin trả lời: “Đúng, tôi là chủ”. Rồi Mỹ xoay qua hỏi con gái hắn. Mỹ hỏi con hắn chuyện gia đình, chuyện làm ăn của hắn, chuyện học hành của con hắn, cha con hắn vào Mỹ làm gì. Con gái hắn trả lời không chút ngập ngừng. Mỹ ô-kê (7-O.K), rồi dặn: “Cha con anh được vào Mỹ, anh về đợi nhận vi-za”. Hắn bước ra khỏi tổng lãnh sự rồi thầm khen Mỹ khôn thiệt: “Ra đường hỏi người già, vô nhà hỏi con nít”. Mỹ hỏi con hắn, con bé không biết nói dối. Cái đống giấy tờ mang theo với bao lời dặn dò của cô Quỳnh Như là vô dụng, Mỹ không đụng đến. Hắn mừng là Mỹ không làm oan hắn. Hắn vào Mỹ rồi trở về chứ có cầu cạnh gì ở Mỹ đâu. Không cho vi-za là hắn kiện thiệt. Mỹ yêu cầu thủ tục gì thì Mỹ phải công khai minh bạch chứ làm gì có chuyện mang theo giấy tờ tù mù thế này? Mỹ nó khôn chứ có dại đâu? Hắn tin Mỹ.
Hai cha con hắn trả gần bảy ngàn đô-la cho Sài-gòn-tua-rít để đi theo tua. Hắn dự định sau mười một ngày kết thúc tua là hắn tách tua, cha con hắn sẽ tự do chu du trên đất Mỹ. Nước Mỹ xa xăm, không ai quen biết nên hắn chuẩn bị kỹ. Hắn đổi được mười ba ngàn đô-la tiền mặt để cha con hắn chia nhau mang theo cho đúng qui định hải quan. Hắn nhờ cô Vân ở ngân hàng A-Cê-Bê (8-ACB: Ngân hàng TMCP Á CHÂU) làm cho hắn cái Vi-za Cạc (9- visa card) với mức được chi tiêu hai trăm triệu, tức là khoảng mười ngàn đô-la nữa. Hắn mua bảo hiểm du lịch toàn cầu mức cao cấp nhất, trong đó có điều khoản qui định là nếu hắn chết thì bảo hiểm lo mang xác hắn về Việt Nam. Hắn chuẩn bị kỹ. Có tiền, có con hắn làm phiên dịch, hắn yên tâm lội khắp nước Mỹ rồi. Hắn thầm nghĩ “đâu có việc gì khó, chỉ sợ mình thiếu tiền”.
Hắn thu xếp công việc, chuyện gia đình để thực hiện chuyến đi xa lâu ngày. Mọi việc đều dễ dàng, nhưng có một việc làm hắn lo lắng. Mẹ hắn đã già yếu, nằm đã lâu, chưa biết ngày về trời. Hắn qua Mỹ, lỡ ở nhà mẹ hắn đi, hắn về không kịp thì hắn ân hận lắm. Chỉ vì chuyện này mà hắn nấn ná không đi đâu xa lâu ngày. Hắn hỏi bác sĩ Bình: “Anh đi một tháng thì mẹ anh có sao không?”. Bác sĩ bảo: “Không sao đâu, anh đi đi”. Hắn tính, nếu lỡ bà cụ qua đời mà không có hắn ở nhà thì phải chịu thôi. Chỗ chôn đã có. Không đi thì không biết khi nào. Hắn đã thuộc dạng “gió heo mây đã về”, chưa chín nhưng đã hườm hườm; để đến tuổi đi vệ sinh phải có người dìu thì còn đi đâu.
Hắn nói với mẹ: “Mẹ ở nhà, con đi Mỹ nghe, con đi một tháng”. Bà cụ chảy nước mắt. Bà biết, đi Mỹ là xa lắm. Hắn qua tới Mỹ, bà lo.
Mấy ngày sau thì hắn nhận được hộ chiếu đã được Mỹ thị thực. Tổng lãnh sự Mỹ gửi hộ chiếu cho hắn qua đường bưu điện phát chuyển nhanh có hồi báo. Thời hạn vi-za là một năm, tức là hắn được vào ra khỏi nước Mỹ trong khoảng thời gian ấy.
Hắn báo cho cô Quỳnh Như mua vé vào Mỹ, ngày đi thì theo tua nhưng ngày về thì do hắn ấn định. Rồi hắn được Sài-gòn-tua-rít họp nhắc nhở các qui định khi vào ra nước Mỹ. Hải quan Việt Nam cho mỗi người mang theo bảy ngàn đô-la tiền mặt mà không cần khai báo. Hãng hàng không Mỹ cho miễn cước tối đa hai kiện hành lý, mỗi kiện không được nặng quá 28kg để dễ bề khuân vác.
Hai cha con hắn lên sân bay Tân Sơn Nhất từ hai hai giờ đêm ngày mười bảy, ngồi đợi chuyến bay một giờ sáng ngày mười tám. Đoàn du lịch có hai mươi mốt người và một hướng dẫn viên tên Đạt – Nguyễn Hữu Đạt. Trông ai cũng hớn hở, cười nói râm ran. Hắn làm quen. Hắn không ngờ cô Quỳnh Như – người bán tua cho cha con hắn – cũng mua vé đi tua chuyến này.
Đạt nhanh nhẹn cầm cây cờ Sài-gòn-tua-rít phất phất: “Nào! Mọi người theo Đạt vào làm thủ tục nhé”. Hắn bám theo. Thủ tục thì không có gì nhưng kiểm soát an ninh thì gắt gao. Hắn đi máy bay của hãng Mỹ e-lai (10- American Airlines) chứ không phải của hãng Vietnam e-lai (11-Vietnam Airlines) đâu nhé. Mỹ kiểm tra, soi rọi kỹ lắm. Nhưng không sao, hắn là Năm Lúa chứ có phải Năm Bin-la-đen đâu mà sợ. Hắn và con lên máy bay. Con hắn được ngồi với hắn gần cửa sổ. Trời tối. Ổn định chỗ ngồi một lúc rồi mọi người ngủ. Con hắn cũng ngủ nhưng hắn không ngủ được. Hắn nghĩ ngợi về chuyến đi đến nước Mỹ xa xăm, về tuổi thơ, về hình ảnh những người lính Mỹ năm xưa đã từng in đậm trong ký ức hắn.

Cháu Lương Quỳnh Mai với 'tên cướp thế kỷ 20" tại hollywood

Năm Lúa Đi Mỹ






Năm Lúa đi Mỹ
có răng nói rứa
  

Mục lục
Nếu không đi chỉ vì sợ gãy chân thì khác nào đôi chân đã gãy.
không ai chọn cửa để sinh ra.
Phần 3: Trên đất Mỹ
Cỡi ngựa xem hoa.
Phần 4: Trăn trở sau chuyến đi.